CÁCH ĐẶT TÊN CỦA NGƯỜI XƯA: "DANH - TỰ - HIỆU"
Người xưa lập
Danh - Tự - Hiệu, không phải để người đời gọi mà để tự biết mình đứng ở đâu
trong trật tự nhân sinh.
Danh để định
thân,
Tự để hành thế,
Hiệu để an tâm.
Ba lớp tên, ba tầng
sống,
không rời nhau mà
cũng không trộn lẫn.
Ví dụ :
1. Danh (名) : Đỗ
Phúc Hưng(杜福興)
Đỗ 杜 là gốc
họ,
mà theo cấu tạo
chữ Hán chữ Đỗ 杜,
vốn do Mộc 木 nhập
Thổ 土
mà thành.
Cây nhờ có đất mà
đứng. Đất nhờ có cây mà không bị xói mòn. Đỗ 杜 trong Hán văn còn có nghĩa là ngăn
giữ, phòng ngừa, hàm ý biết dừng đúng chỗ, không buông thả theo dục vọng. Vì vậy,
họ Đỗ mang ý nghĩa bền gốc, giữ chừng mực.
Phúc 福 là điều
lành do tích tụ từ nhân thiện.
Người xưa hiểu
phúc không phải thứ cầu xin
mà là quả của Đức.
Đặt chữ Phúc
trong tên,
không phải để
khoe may mắn,
mà để tự nhắc sống
có phúc khí,
tức là sống sao
cho người khác được nhờ.
Hưng 興 nghĩa
là dấy lên, phát triển, làm cho thịnh.
Nhưng trong cổ
nghĩa, hưng không tách rời suy:
có hưng thì phải
biết giữ,
không giữ thì
hưng hóa suy.
Tên Hưng vì thế
không chỉ là mong thịnh vượng mà là trách nhiệm làm cho điều tốt được tiếp nối.
Đỗ Phúc Hưng có
thể hiểu là:
Người họ Đỗ,
lấy đức làm gốc,
lấy phúc làm nền,
lấy sự hưng thịnh
của điều lành làm chí hướng.
Danh là điều được
trao,
nhưng ý nghĩa là
điều phải sống ra.
Mang danh Phúc
Hưng,
không phải để
mong đời ưu ái,
mà để tự hỏi mỗi
ngày:
việc mình làm hôm
nay,
có khiến phúc
tăng hay giảm?
có khiến điều tốt
được hưng hay bị đoạn?
Danh gọi đến đây
không còn là danh xưng,
mà trở thành một
lời nhắc tu thân suốt đời.
Danh là cái cha mẹ
trao,
là điểm khởi hành
của một đời người,
nên không đổi,
cũng không dám
khinh.
Người xưa nói “Đi
không thay tên, ngồi không đổi họ” là vậy.
2. Tự (字) : Thộc
Mỗ ( Thộc 某)
Ra ngoài đời,
người xưa không gọi
nhau bằng danh,
mà dùng tự,
để giữ lễ,
và để mỗi người tự
chọn cách đứng giữa thiên hạ. Nhưng Tự thường vẫn phải có sự liên quan mật thiết
đến Danh.
Thộc Mỗ là một
tên tự đặc biệt được ghép từ hai ngôn ngữ,
một chữ Hán, một
chữ Việt,
không theo lối đặt
tên thông thường,
vì vốn dĩ không
muốn đứng trong khuôn thường.
Mỗ (某) chỉ
một kẻ vô danh,
một đại từ tự
xưng khiêm hạ,
có tên mà như
không tên.
Mỗ là mỗ,
chẳng cần ai biết
mỗ là ai.
Thộc là tiếng Việt
mộc mạc,
lấy nghĩa trong
câu “chạy thộc vào nhà”:
thẳng, trực diện,
không vòng vo, không tránh né.
Ghép lại thành
“Thộc Mỗ” mang nghĩa là :
một kẻ vô danh,
nhưng chọn đi thẳng,
nói thẳng,
viết thẳng,
không ẩn sau chữ
nghĩa để ném đá giấu tay.
Lại xét theo
duyên chữ:
Thộc Mỗ theo lối
nói lái của người Việt là Mộc Thổ.
Mộc 木 nhập
Thổ 土
hóa ra chữ 杜 chính
là họ Đỗ.
Bỏ tên mà gặp gốc,
lui về vô danh mà
chạm vào căn cơ.
Tự vì thế không
trái danh,
mà trở về danh
theo một vòng khác.
3. Hiệu (號 ):
Lam Y Mặc Khách (藍衣墨客)
Nếu danh là gốc,
tự là cách đi,
thì hiệu là nơi gửi
gắm tâm tư.
Lam Y (藍衣)
không phải áo đời,
mà là màu của nếp
sống Gia đình Phật tử:
giản dị, khiêm hạ,
đứng giữa đời mà không lẫn đời.
Mặc Khách (墨客) là
kẻ rong ruổi trong mực và chữ,
lấy giấy làm đất ở,
lấy nét bút làm
đường về.
Không nhận mình
là thư gia,
chỉ nhận mình là
người khách qua lại trong thế giới chữ nghĩa.
Đức Phật dạy rằng
: Đời là cõi tạm. Quán trọ trần gian này ta thật sự chỉ là Khách chứ nào phải
chủ.
Vậy nên:
Danh Đỗ Phúc Hưng
giữ cho không quên gốc rễ.
Tự Thộc Mỗ nhắc
cách đi giữa đời: thẳng mà khiêm.
Hiệu Lam Y Mặc
Khách giữ cho lòng có chỗ quay về.
Ba tên,
không phải ba cái
tôi,
mà là ba lời tự
răn:
+ Khi mang danh,
nhớ ơn sinh thành.
+ Khi dùng tự, giữ
mình ngay thẳng.
+ Khi xưng hiệu,
đừng để chữ rời đạo.
Người xưa nói:
名正而後言順,
字立而後行遠,
號安而後心定。
Danh chính nhi hậu
ngôn thuận,
Tự lập nhi hậu
hành viễn,
Hiệu an nhi hậu
tâm định.
Danh đã chính,
tự đã lập,
hiệu đã an,
thì dù ở đâu,
cũng có thể đứng
yên mà không lạc mình !
Tiết Đông Chí,
năm Ất Tỵ, hậu bối Đỗ Phúc Hưng, tự Thộc Mỗ, hiệu Lam Y Mặc Khách kính bút.

(Bài của tác giả có tên hiệu: Lam Y Mặc Khách)